Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt: Nguyên nhân và cách khắc phục

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt (Specific Phobias Disorder) là tình trạng sợ hãi quá độ, vô lý và kéo dài về các đối tượng và tình huống không thật sự nguy hiểm. Nguồn gốc của nỗi sợ có sự khác biệt ở từng trường hợp, trong đó phổ biến nhất là sợ độ cao, không gian kín, sợ đi máy bay, sợ côn trùng và các hiện tượng thiên nhiên.

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt
Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt – Specific Phobias Disorder là gì?

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt là bệnh gì?

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt (Specific Phobias Disorder) còn được biết đến với tên gọi chứng ám ảnh chuyên biệt và ám ảnh sợ đặc hiệu. Đây là dạng lâm sàng thường gặp nhất của rối loạn lo âu và thuộc nhóm rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi. Thống kê cho thấy, khoảng 8.7% dân số gặp phải chứng bệnh này với tỷ lệ cao hơn ở nữ giới (gấp 2 lần nam giới).

Ám ảnh sợ chuyên biệt được định nghĩa là sự sợ hãi quá mức và phi lý về đối tượng, tình huống cụ thể như không gian hẹp, độ cao, sợ côn trùng, động vật, sợ tiếng động lớn, sợ kim tiêm,… Khác với sự sợ hãi và lo lắng tạm thời trước những tình huống căng thẳng, nỗi sợ của người mắc chứng bệnh này có xu hướng dai dẳng và thường quá mức so với mức độ của tình huống, sự việc.

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt chỉ được chẩn đoán khi nỗi sợ hãi kéo dài ít nhất 6 tháng và tăng lên theo thời gian gây ra nhiều ảnh hưởng, bất tiện trong cuộc sống. Trong khi đó, nỗi sợ thông thường sẽ thuyên giảm sau khi bản thân đã trải qua và quen dần với đối tượng, tình huống. Không giống với các rối loạn lo âu khác, một số chứng ám ảnh sợ chuyên biệt ít ảnh hưởng đến cuộc sống thường không nhất thiết phải can thiệp điều trị.

Các dạng ám ảnh sợ chuyên biệt thường gặp

Ám ảnh sợ chuyên biệt có nhiều dạng khác nhau. Trong đó thường được chia thành 5 nhóm chính sau:

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt
Chú hề là một trong những đối tượng gây ra sự sợ hãi quá mức cho bệnh nhân ám ảnh sợ chuyên biệt
  • Sợ động vật, côn trùng như rắn, rết, chó, mèo, nhện, bò cạp,…
  • Các hiện tượng thiên nhiên như sấm sét, giông bão, sóng thần,…
  • Các tình huống cụ thể như sợ đi học, sợ không gian hẹp, kín, sợ đi máy bay, sợ bóng tối.
  • Các thủ thuật y tế như kim tiêm, phẫu thuật, sợ máu, vết tiêm, vết mổ,…
  • Ngoài 4 nhóm dạng trên, một số người còn sợ hãi với những tình huống/ đối tượng ít gặp hơn như tiếng nôn mửa, tiếng động lớn, chú hề, sợ độ cao,…

Mức độ sợ hãi có sự khác biệt ở từng cá thể. Nếu xảy ra từ thời thơ ấu, tình trạng thường có xu hướng thuyên giảm khi bước vào giai đoạn trưởng thành. Người lớn mắc chứng bệnh này hầu hết đều ý thức được nỗi sợ phi lý của bản thân nhưng không thể kiểm soát. Trong khi trẻ nhỏ không nhận thấy sự sợ hãi của bản thân là phi thực tế và thái quá.

Các ám ảnh sợ chuyên biệt sẽ được đặt tên cụ thể như Glossophobia (sợ đám đông), Acrophobia (sợ độ cao), Claustrophobia (ám ảnh sợ không gian kín), Aviphobia (ám ảnh sợ đi máy bay),…

Triệu chứng rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt đặc trưng bởi sự sợ hãi quá mức và vô lý về những sự kiện, tình huống và đối tượng bình thường, hoàn toàn không tiềm ẩn mối đe dọa. Một số trường hợp sợ hãi tột độ có thể rơi vào trạng thái hoảng loạn và ngất xỉu.

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt
Khi đối mặt với tình huống, đối tượng gây ám ảnh, bệnh nhân thường có phản ứng sợ hãi và hoảng loạn

Các triệu chứng có thể gặp phải ở bệnh nhân rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt:

  • Xuất hiện cảm giác sợ hãi, hoảng loạn, lo âu và căng thẳng khi tiếp xúc với đối tượng gây ám ảnh như động vật, độ cao, sấm sét,… Một số bệnh nhân còn có thể phát sinh phản ứng sợ hãi quá độ khi suy nghĩ đến đối tượng/ tình huống gây ám ảnh.
  • Phần lớn bệnh nhân có thể nhận thấy sự vô lý về nỗi sợ của bản thân nhưng không thể kiểm soát được sự sợ hãi. Tình trạng này khiến người bệnh căng thẳng, lo lắng và phiền muộn.
  • Cố gắng né tránh những tình huống, đối tượng gây ám ảnh để tránh sợ hãi quá độ. Ví dụ như người bệnh chọn đi thang bộ để tránh phải tiếp xúc với không gian hẹp của thang máy, tránh làm việc ở những tầng cao do sợ hãi với độ cao, lựa chọn các phương tiện khác ngoài máy bay,… Chính vì tâm lý né tránh nên quá trình học tập và cơ hội nghề nghiệp của bệnh nhân đều bị ảnh hưởng.
  • Khi tiếp xúc với tình huống và đối tượng gây sợ hãi, bệnh nhân gần như không thể kiểm soát hoạt động của bản thân. Cùng lúc này, cơ thể  sẽ có các biểu hiện như khó thở, tức ngực, đổ mồ hôi, choáng váng và tim đập nhanh.
  • Nếu ám ảnh sợ vết thương, máu và kim tiêm, bệnh nhân có thể cảm thấy buồn nôn, nôn mửa và thậm chí là ngất xỉu.
  • Trẻ nhỏ gặp chứng bệnh này thường biểu hiện sự sợ hãi quá mức thông qua các biểu hiện như đau bao tử, đau đầu, bám lấy cha mẹ, khóc lóc, cáu kỉnh,…
  • Sự sợ hãi thái quá cùng với phản ứng né tránh của bệnh nhân gây ra những ảnh hưởng đáng kể đối với cuộc sống.

Thống kê cho thấy, có khoảng 75% bệnh nhân có nhiều hơn 1 nỗi ám ảnh sợ (trung bình khoảng 3 đối tượng/ tình huống). Các đối tượng sợ hãi thường có mối liên hệ mật thiết như người sợ đi máy bay thường sợ độ cao, sấm sét, mưa giông và các hiện tượng thời tiết khác.

Nguyên nhân gây rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt

Rối loạn ám ảnh sợ hãi nói chung và ám ảnh sợ chuyên biệt nói riêng đều chưa xác định được nguyên nhân cụ thể. Tuy nhiên với kết quả từ những nghiên cứu đã được thực hiện, chứng bệnh này được xác định có liên quan đến những nguyên nhân và yếu tố như:

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt
Người từng trải qua các sự kiện có tính chất nghiêm trọng (tai nạn máy bay) sẽ hình thành nỗi sợ quá mức về đối tượng và tình huống tương ứng
  • Di truyền: Di truyền là yếu tố có mặt trong cơ chế bệnh sinh của hầu hết các rối loạn tâm thần, bao gồm cả rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt. Mặc dù cách thức di truyền và loại gen chưa được xác định nhưng điều tra dịch tễ cho thấy, nguy cơ mắc chứng tăng lên đáng kể ở những người có tiền sử gia đình mắc chứng bệnh này.
  • Tác động từ gia đình: Nếu gia đình có người mắc ám ảnh sợ chuyên biệt (có thể không cùng huyết thống), trẻ nhỏ sẽ có nguy cơ mắc chứng bệnh này cao hơn. Nguyên nhân là do trẻ học theo hành vi và cách phản ứng của người bệnh, dần dần hình thành nỗi sợ phi lí với các đối tượng và tình huống bình thường trong cuộc sống.
  • Bất thường ở não bộ: Nghiên cứu hình ảnh não bộ ở bệnh nhân ám ảnh sợ chuyên biệt cho thấy, cơ quan quản lý sợ hãi và hoảng loạn có dấu hiệu suy giảm hoạt động. Điều này khiến cho người bệnh phát sinh nỗi sợ vô lý với những đối tượng và tình huống không tiềm ẩn bất cứ mối nguy hiểm nào.
  • Độ tuổi: Ám ảnh sợ chuyên biệt thường gặp ở trẻ dưới 10 tuổi và sau đó có thể thuyên giảm khi lớn hơn. Nguyên nhân là do trẻ nhỏ chưa có đủ hiểu biết về thế giới nên luôn tồn tại nỗi sợ với một số đối tượng như sấm sét, bóng tối, sợ đi máy bay,…
  • Sang chấn tâm lý: Sang chấn tâm lý cũng là yếu tố góp phần gây rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt. Các chuyên gia cho rằng, những sự kiện có tính chất nghiêm trọng rất có thể là nguyên nhân gây ra nỗi sợ quá mức và vô lý. Các sang chấn tâm lý như bị động vật tấn công, mắc kẹt trong thang máy, vô tình giẫm phải kim tiêm và phải điều trị chống phơi nhiễm, tai nạn từ trên cao,… đều có thể gây ra nỗi sợ hãi và ám ảnh về các đối tượng, tình huống cụ thể. Hầu hết những trường hợp hình thành nỗi ám ảnh sợ do các sự kiện này đều không tự thuyên giảm như sợ bóng tối và quái vật ở trẻ nhỏ.
  • Các yếu tố khác: Ngoài ra, nguy cơ mắc chứng rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt cũng có thể liên quan đến tính cách nhạy cảm, tiêu cực, hay lo âu, căng thẳng, đã có sẵn các rối loạn tâm thần,…

Hiện nay, sự hiểu biết về căn nguyên của các rối loạn lo âu nói chung và rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt nói riêng còn khá hạn chế. Do đó, các nguyên nhân và yếu tố được đề cập trong bài viết vẫn chỉ là giả thuyết, hoàn toàn chưa tìm thấy bằng chứng cụ thể để đưa ra bất cứ khẳng định nào.

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt có nguy hiểm không?

Khác với sự sợ hãi thông thường, rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt gây ra những ảnh hưởng đáng kể đối với cuộc sống. Để giảm sự sợ hãi và hoảng loạn, bệnh nhân có xu hướng né tránh với những đối tượng và tình huống gây ám ảnh. Điều này gây ra rất nhiều phiền toái khi học tập, làm việc và sinh hoạt.

Cụ thể, một số người có thể từ chối công việc lý tưởng do phải làm việc ở những tòa nhà cao tầng, mất nhiều thời gian đi thang bộ do sợ không gian kín,… Ngoài ra, những người sợ máu, kim tiêm và các thủ thuật y tế luôn trốn tránh khám định kỳ, đồng thời có xu hướng tự dùng thuốc và điều trị tại nhà khi gặp phải các vấn đề sức khỏe. Tình trạng này dẫn đến nhiều hệ lụy và gây ra ảnh hưởng nặng nề đối với sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.

Rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt
Bệnh nhân ám ảnh sợ chuyên biệt dễ rơi vào trạng thái lo âu, trầm cảm và tìm đến bia rượu để giải tỏa cảm xúc

Những người mắc chứng ám ảnh sợ chuyên biệt thường khó hòa nhập với cộng đồng, có xu hướng tự cách ly và cô lập. Hơn nữa, vì không thể kiểm soát nỗi sợ thái quá của bản thân và phải đối mặt với nhiều phiền toái trong cuộc sống, không ít bệnh nhân phát triển các dạng rối loạn lo âu khác, trầm cảm, rối loạn lưỡng cực,…

Để giải phóng bản thân khỏi sự căng thẳng và phiền muộn, người bệnh lựa chọn lối sống phóng túng với các thói quen không lành mạnh như dùng rượu, thuốc lá và chất gây nghiện. Bệnh nhân mắc chứng ám ảnh sợ chuyên biệt đi kèm với nghiện rượu bia, thuốc phiện và có các rối loạn tâm thần khác thường có nguy cơ tự sát cao.

Chẩn đoán ám ảnh sợ chuyên biệt

Tương tự như các rối loạn lo âu khác, ám ảnh sợ chuyên biệt được chẩn đoán thông qua biểu hiện lâm sàng. Chứng bệnh này chỉ được chẩn đoán khi bệnh nhân đáp ứng đủ tiêu chí DSM-5 được xuất bản bởi Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ.

Với những bệnh nhân mắc đồng thời nhiều rối loạn tâm thần, bác sĩ cần đánh giá kỹ hơn về sức khỏe tâm thần và yêu cầu thực hiện một số xét nghiệm chuyên sâu để có thể đưa ra chẩn đoán chính xác. Trong tất cả các trường hợp, rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt đều phải có nỗi sợ dai dẳng, vô lý kéo dài ít nhất 6 tháng và sự né tránh các đối tượng này gây suy giảm đáng kể việc học, lao động, tương tác xã hội,…

Cách khắc phục rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt

Phương pháp chính trong điều trị rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt là trị liệu tâm lý (liệu pháp phơi nhiễm và liệu pháp hành vi nhận thức). Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể cân nhắc dùng thuốc để giảm sự sợ hãi, hoảng loạn và căng thẳng quá mức khi bệnh nhân tiếp xúc với đối tượng gây ám ảnh.

Nếu được chăm sóc và điều trị đúng cách, chứng ám ảnh sợ chuyên biệt thường thuyên giảm rõ rệt. Ngoài ra, một số người có thể phải đối mặt với chứng bệnh này trong suốt cả cuộc đời. Tuy nhiên thông qua điều trị, bệnh nhân hoàn toàn có thể chế ngự nỗi sợ và cải thiện chức năng xã hội, học tập và làm việc một cách bình thường.

Các phương pháp điều trị ám ảnh sợ chuyên biệt được áp dụng hiện nay:

1. Tâm lý trị liệu

Như đã đề cập, tâm lý trị liệu là phương pháp chính trong điều trị rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt. Phương pháp này được thực hiện thông qua hình thức giao tiếp. Tùy theo tình trạng cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định trị liệu cá nhân, trị liệu nhóm hoặc kết hợp cả hai hình thức này.

Đối với rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt, hai phương pháp trị liệu tâm lý được áp dụng là liệu pháp phơi nhiễm (liệu pháp tiếp xúc) và liệu pháp nhận thức hành vi (CBT). Các liệu pháp này thường được thực hiện trong 12 tuần và mang lại hiệu quả lâu dài, toàn diện.

ám ảnh sợ chuyên biệt
Bệnh nhân ám ảnh sợ chuyên biệt sẽ được điều trị bằng liệu pháp phơi nhiễm và liệu pháp nhận thức hành vi
  • Liệu pháp phơi nhiễm: Liệu pháp phơi nhiễm được thực hiện bằng cách cho bệnh nhân tiếp xúc với nguồn gốc của nỗi sợ hãi thông qua tưởng tượng để học cách đối phó với nỗi sợ, sự lo lắng và căng thẳng. Sau đó, nhà trị liệu sẽ tăng dần mức độ bằng cách cho bệnh nhân tiếp xúc với thực tế. Dần dần, người bệnh có thể chế ngự nỗi sợ của bản thân và giảm sự sợ hãi khi đối mặt với những đối tượng, tình huống gây ám ảnh.
  • Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT): CBT là phương pháp tâm lý trị liệu được áp dụng phổ biến nhất hiện nay. Phương pháp này giúp bệnh nhân hiểu rõ mọi phiền toái trong cuộc sống đều bắt nguồn từ sự sợ hãi vô lý và thái quá. Từ đó điều chỉnh cách nhìn nhận và học cách chế ngự nỗi sợ. Liệu pháp này tập trung vào việc kiểm soát những cảm xúc tiêu cực, từ đó giúp bệnh nhân thay đổi hành vi và suy nghĩ về những đối tượng, tình huống gây sợ hãi.

Trị liệu tâm lý còn giúp trang bị kỹ năng sống và cải thiện khả năng giao tiếp để dễ dàng kết bạn và hòa nhập với cộng đồng. Ngoài ra thông qua liệu pháp này, người bệnh sẽ dần thấu hiểu bản thân và chủ động hơn trong cuộc sống.

2. Sử dụng thuốc

Dùng thuốc không phải là lựa chọn ưu tiên trong điều trị rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy, phối hợp sử dụng thuốc cùng với tâm lý trị liệu sẽ mang lại cải thiện tích cực và rõ rệt hơn so với điều trị đơn lẻ.

Ngoài ra, thuốc cũng có thể được dùng để giảm sự căng thẳng, lo âu và một số triệu chứng thực thể do hoảng loạn quá mức. Tùy theo độ tuổi và biểu hiện lâm sàng ở từng bệnh nhân, bác sĩ có thể chỉ định dùng các loại thuốc sau:

  • Thuốc chống trầm cảm: Thuốc chống trầm cảm là loại thuốc được sử dụng phổ biến trong điều trị ám ảnh sợ chuyên biệt, trong đó thường dùng nhất chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs). Thuốc có tác dụng giảm sự lo âu, căng thẳng và thường được sử dụng song song với liêu pháp phơi nhiễm.
  • Thuốc chẹn beta: Thuốc chẹn beta được dùng để cải thiện các triệu chứng cơ thể do hoảng loạn và sợ hãi quá mức gây ra như tim đập nhanh, cao huyết áp, đổ mồ hôi, chân tay run rẩy,… Thuốc thường được dùng ngắn hạn để giảm nhanh các triệu chứng kể trên. Tránh sử dụng lâu dài vì lợi ích mang lại không cao hơn so với rủi ro tiềm ẩn.
  • Thuốc an thần: Thuốc an thần nhóm benzodiazepines có thể được sử dụng cho bệnh nhân bị căng thẳng quá mức do những phiền toái mà chứng ám ảnh sợ chuyên biệt gây ra. Nhóm thuốc này có thể gây nghiện nên không thích hợp với người có tiền sử nghiện rượu bia và thuốc phiện. Ngoài ra, để tránh tình trạng lệ thuộc, thuốc chỉ được sử dụng ngắn hạn với liều thấp nhất có đáp ứng.

Trong thời gian dùng thuốc, bệnh nhân có thể gặp phải một số tác dụng phụ. Do đó, cần chú ý những biểu hiện bất thường để kịp thời thông báo với bác sĩ.

3. Các biện pháp hỗ trợ

Ám ảnh sợ chuyên biệt không chỉ đặc trưng bởi sự sợ hãi thái quá và vô lý mà còn gây căng thẳng thần kinh, phiền muộn và lo lắng do những phiền toái trong cuộc sống. Ngoài ra, tình trạng hoảng loạn quá độ cũng khiến bệnh nhân gặp phải các vấn đề sức khỏe thể chất. Chính vì vậy, bên cạnh các phương pháp chuyên sâu, bệnh nhân cũng cần áp dụng một số biện pháp hỗ trợ như:

ám ảnh sợ chuyên biệt
Hoạt động thể chất thường xuyên giúp cải thiện các triệu chứng thực thể và giải tỏa sự lo lắng, căng thẳng quá mức
  • Ngồi thiền, tập yoga mang lại hiệu quả rõ rệt đối với tình trạng lo lắng và căng thẳng quá mức. Bằng cách chế ngự nỗi sợ, bệnh nhân có thể giảm các hành vi né tránh với những đối tượng và tình huống gây sợ hãi.
  • Khi đối mặt với sự sợ hãi và hoảng loạn, bệnh nhân nên hít thở sâu để giảm mức độ của nỗi sợ và cải thiện các triệu chứng thể chất.
  • Thay vì căng thẳng với những phiền toái do chứng bệnh này gây ra, bệnh nhân nên thẳng thắn trao đổi với cấp trên, đồng nghiệp và thầy cô giáo để nhận được sự hỗ trợ. Với sự chia sẻ và đồng cảm từ những người xung quanh, bệnh nhân sẽ giảm bớt sự căng thẳng và hạn chế được tình trạng tự cô lập bản thân.
  • Dành 30 phút mỗi ngày để tập thể dục. Hoạt động thể chất đã được chứng minh giúp cải thiện tâm trạng và đẩy lùi những cảm xúc tiêu cực như lo âu, phiền muộn, căng thẳng, lo lắng,… Ngoài ra, tập thể dục thường xuyên còn giúp nâng cao sức khỏe thể chất và cải thiện các triệu chứng thể chất.

Hầu hết những người mắc chứng rối loạn ám ảnh sợ chuyên biệt đều có thể duy trì cuộc sống, học tập và làm việc một cách bình thường. Tuy nhiên nếu không được điều trị, bệnh nhân có thể mắc các rối loạn tâm thần khác và lựa chọn lối sống thiếu lành mạnh. Do đó, chủ động thăm khám và điều trị sớm là biện pháp quan trọng nhất để vượt qua chứng bệnh này.

Tham khảo thêm:

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

icon Zalo icon messenger