10 Dạng Bệnh Tâm Lý Thần Kinh Thường Gặp Hiện Nay

Bệnh tâm lý thần kinh bao gồm nhiều dạng với biểu hiện triệu chứng khác nhau. Cần tìm hiểu rõ để sớm phát hiện và có biện pháp can thiệp phù hợp. Từ đó làm giảm mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

bệnh tâm lý thần kinh
Các bệnh tâm lý thần kinh đang ngày càng trở nên phổ biến gây ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống

10 Dạng bệnh tâm lý thần kinh cần được quan tâm sớm

Bệnh tâm lý thần kinh là thuật ngữ chung dùng để chỉ các dạng tình trạng sức khỏe tinh thần có liên quan tới sự thay đổi về suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của một người. Các tình trạng bệnh này có thể khiến cho người bệnh cảm thấy đau khổ hoặc gây ra các vấn đề trong cuộc sống thường ngày.

Theo thống kê của Viện sức khỏe Tâm thần Trung ương thì tỉ lệ người Việt Nam mắc phải các bệnh tâm lý thần kinh một lần trong đời có thể lên tới khoảng 15 – 20%. Tùy thuộc vào từng dạng bệnh mà cụ thể mà người bệnh sẽ gặp phải các triệu chứng khác nhau.

Sự hối hả của cuộc sống hiện đại có thể khiến cho nhiều người bỏ quên đi việc chăm sóc sức khỏe tinh thần. Điều này khiến cho các bệnh tâm lý thần kinh tiềm ẩn nhưng không được phát hiện sớm. Từ đó gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng, thậm chí là dẫn đến những hành vi nguy hiểm cho tính mạng.

Dưới đây là thông tin về 10 dạng bệnh tâm lý thần kinh thường gặp nhất hiện nay:

1. Rối loạn trầm cảm

Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) đánh giá trầm cảm là chứng rối loạn tâm thần phổ biến nhất hiện nay, ảnh hưởng đến hơn 264 triệu người trên toàn thế giới. Thống kê của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) cũng cho thấy, có khoảng 8.1% người Mỹ nói riêng và 5% dân số thế giới nói chung bị rối loạn trầm cảm.

Trầm cảm (Depression) là một dạng rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi khí sắc trầm buồn, mất hứng thú, buồn bã và bi quan kéo dài. Người mắc bệnh thường bị giảm hoặc mất hẳn sự quan tâm với tất cả mọi thứ xung quanh. Trong những năm gần đây, tỉ lệ người mắc phải chứng bệnh tâm lý thần kinh này đang có xu hướng gia tăng – nhất là người trẻ tuổi.

Triệu chứng của bệnh trầm cảm có xu hướng diễn tiến chậm, thường phát triển từ từ trong thời gian dài. Bên cạnh những ảnh hưởng về mặt cảm xúc thì người bệnh sẽ dần phát sinh nhiều biểu hiện bất thường về nhận thức, hành động và có các triệu chứng cơ thể đi kèm.

rối loạn trầm cảm
Rối loạn trầm cảm được đánh giá là bệnh tâm lý thần kinh phổ biến nhất hiện nay

Cho đến nay, nguyên nhân chính xác gây ra rối loạn trầm cảm vẫn chưa được xác nhận. Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu đều chỉ ra, trầm cảm là kết quả tương tác phức tạp của các yếu tố bên trong và bên ngoài cơ thể.

Rối loạn trầm cảm ảnh hưởng rất lớn tới hiệu suất học tập/ lao động và các mối quan hệ xã hội. Về lâu dài, người bệnh có xu hướng tự cô lập và tách rời với cộng đồng. Thậm chí trong nhiều trường hợp còn phát sinh hành vi tự sát. Do đó cần sớm phát hiện và có biện pháp can thiệp kịp thời khi xuất hiện các dấu hiệu trầm cảm.

2. Rối loạn lưỡng cực

Rối loạn lưỡng cực còn được gọi là rối loạn hưng – trầm cảm. Thuật ngữ này đề cập đến những thay đổi đột ngột và nghiêm trọng về tâm trạng của một người. Người bệnh có lúc phấn khích vui vẻ quá nhưng có lúc lại rơi vào trạng thái buồn chán cực độ.

Theo ước tính của Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) thì bệnh rối loạn lưỡng cực đang ảnh hưởng đến hơn 45 triệu người trên toàn thế giới. Trong đó đối tượng những người trẻ từ 18 – 24 tuổi chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Phụ nữ mang thai hoặc đang trong thời kỳ nuôi con bú cũng có nguy cơ cao bị rối loạn lưỡng cực.

Triệu chứng của bệnh rối loạn lưỡng cực được đánh giá là khá tương đồng với một số bệnh tâm lý thần kinh khác. Nét đặc trưng riêng là người bệnh sẽ tồn tại hai trạng thái cảm xúc hoàn toàn trái ngược nhau, đó là hưng cảm và trầm cảm. Các triệu chứng bệnh có thể xuất hiện nhiều lần trong ngày nhưng cũng có thể vài tuần hay vài tháng tùy vào mức độ nghiêm trọng ở từng người.

Bệnh rối loạn lưỡng cực ngoài ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý thì còn gây phiền toái cho sinh hoạt thường ngày và làm giảm chất lượng cuộc sống. Đối với bệnh lý này, bệnh nhân cần điều trị bằng thuốc ổn định tâm trạng và các liệu pháp khác theo chỉ định của bác sĩ.

3. Hội chứng tự kỷ

Hội chứng tự kỷ là thuật ngữ đề cập đến những triệu chứng xảy ra do rối loạn phát triển hệ thần kinh. Bệnh lý này khởi phát từ rất sớm (chủ yếu là dưới 36 tháng tuổi). Nguy cơ mắc bệnh có sự khác biệt về giới tính. Trong đó, nam giới có nguy cơ bị tử kỷ cao hơn nữ giới đến 4.5 lần. Tuy nhiên, chứng bệnh này lại có xu hướng nghiêm trọng hơn ở nữ giới.

Theo nhận định của Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) thì hội chứng tự kỷ cũng là bệnh tâm lý thần kinh thường gặp trong cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, cho đến nay, nguyên nhân chính xác gây bệnh vẫn chưa được biết đến. Các nghiên cứu cho thấy, yếu tố di truyền, yếu tố miễn dịch học, yếu tố sinh hóa, yếu tố gia đình và tâm động học… đều có thể liên quan.

Tỷ lệ người mắc bệnh tự đang ngày càng gia tăng
Bệnh tự kỷ thường khởi phát từ rất sớm, ảnh hưởng chủ yếu đến trẻ nhỏ

Hội chứng tự kỷ đặc trưng bởi sự khiếm khuyết về các mặt ngôn ngữ, tư duy, hành vi và tương tác xã hội. Bên cạnh đó, những trẻ mắc phải chứng bệnh này còn có sở thích và hành động rất đặc trưng, dễ nhận biết.

Bệnh tự kỷ gây ra rất nhiều hệ lụy cho cuộc sống của một người. Chỉ có 1 – 2% người bệnh có khả năng bình thường hóa cuộc sống và tự lo được cho bản thân. 2/3 người trưởng thành bị tử kỷ phải sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình hay sống trong bệnh viện.

Cho đến nay, việc điều trị bệnh tự kỷ vẫn gặp rất nhiều khó khăn và bệnh lý này dường như không thể chữa khỏi. Tuy nhiên việc can thiệp điều trị có thể cải thiện các khiếm khuyết để giúp người bệnh nâng cao chất lượng cuộc sống.

4. Rối loạn lo âu lan tỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) được xác định là dạng thường gặp nhất của bệnh rối loạn lo âu. Đặc trưng hội chứng rối loạn tâm lý này là sự lo lắng quá mức, kéo dài và thường trực về mọi khía cạnh của cuộc sống.

Số liệu thống kê chỉ ra rằng, có khoảng 3% dân số thế giới chịu ảnh hưởng của hội chứng rối loạn lo âu lan tỏa. Trong đó, nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Đây đang là bệnh tâm lý thần kinh xảy ra phổ biến trong cuộc sống hiện nay mà mỗi người cần phải cảnh giác.

Rối loạn lo âu lan tỏa có khả năng tiến triển mãn tính cao hơn các dạng rối loạn lo âu khác. Hơn nữa còn rất dễ xảy ra đồng thời với các dạng rối loạn tâm lý khác. Nguyên nhân gây ra hội chứng này đến nay vẫn chưa được xác định cụ thể. Tuy nhiên nó thường là hệ quả của nhiều yếu tố cộng hưởng.

Những người mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa thường không thể kiểm soát được sự lo lắng quá mức của bản thân. Nỗi lo quá mức kéo dài, mơ hồ và lặp đi lặp lại gây ra rất nhiều ảnh hưởng đến chất lượng  cuộc sống. Nếu không sớm cải thiện và khắc phục thì tình trạng này dẫn đến nhiều hệ quả rất nặng nề.

5. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive Compulsive Disorder – OCD) đề cập đến tình trạng một người bị ám, ảnh bởi những ý nghĩ, cảm giác và biểu tượng xuất hiện một cách cưỡng bức. Sự ám ảnh quá mức khiến họ phải thực hiện các hành động để làm giảm căng thẳng và lo âu.

Số liệu thống kê cho thấy rằng, bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế ảnh hưởng đến khoảng 2 – 3% dân số thế giới. Hội chứng này có thể ảnh hưởng đến cả trẻ em và người lớn. Tuy nhiên ở người trưởng thành thì tỷ lệ mắc bệnh dường như không có sự chênh lệch giữa các giới. Trong khi đó, ở trẻ em và thanh thiếu niên thì nguy cơ mắc bệnh ở nam giới chiếm tới 70%.

hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế
Theo thống kê, hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế ảnh hưởng khoảng 2 – 3% dân số thế giới

Đặc trưng của bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế là sự lặp đi lặp lại của các ý nghĩ hoặc hành vi cưỡng bức. Trong hầu hết các trường hợp thì bệnh nhân có thể ý thức được sự vô lý trong suy nghĩ và hành vi. Tuy nhiên họ lại không thể kiểm soát và khống chế chúng. Triệu chứng của bệnh lý này gây ra rất nhiều phiền toái cho cuộc sống của người bệnh.

Cho đến nay, việc điều trị rối loạn ám ảnh cưỡng chế còn gặp rất nhiều hạn chế và thách thức. Sử dụng thuốc và liệu pháp hành vi là những giải pháp chính để kiểm soát bệnh. Mục tiêu của điều trị là cải thiện triệu chứng và làm giảm sự phiền toái để duy trì chất lượng cuộc sống tốt hơn.

6. Rối loạn giao tiếp

Rối loạn giao tiếp hiện đang là chứng rối loạn xảy ra rất phổ biến ở trẻ em. Theo NIDCD (Viện Quốc gia về điếc và rối loạn giao tiếp khác) thì có 8 – 9% trẻ bị rối loạn âm thanh giọng nói. Tỷ lệ này giảm xuống còn 5% đối với trẻ em ở lớp 1.

Ngoài ra, chứng rối loạn giao tiếp còn tương đối phổ biến ở người lớn. Cũng theo NIDCD, khoảng 7.5 người trưởng thành ở Hoa Kỳ gặp vấn đề khi sử dụng dụng nói của họ. Ngoài ra, có từ 6 – 8 triệu người mắc một số loại bệnh về ngôn ngữ.

Rối loạn giao tiếp có thể ảnh hưởng đến cách mà một người nhận, gửi, xử lý hay hiểu các khái niệm. Họ cũng có thể gặp phải khó khăn khi nói hay bị giảm khả năng nghe và hiểu thông tin. Các triệu chứng có thể phụ thuộc vào từng loại rối loạn giao tiếp. Có thể là sử dụng sai từ, âm thanh lặp đi lặp lại, giao tiếp khó hiểu, không có khả năng hiểu thông tin…

Hầu hết những người bị rối loạn giao tiếp sẽ được hưởng lợi từ liệu pháp ngôn ngữ nói. Tuy nhiên phương pháp điều trị còn phụ thuộc vào nguyên nhân, loại và mức độ nghiêm trọng của rối loạn. Đối với trẻ em việc điều trị cần phải bắt đầu càng sớm càng tốt để tránh khỏi các hệ lụy không mong muốn.

7. Rối loạn cảm xúc

Rối loạn cảm xúc cũng là một trong những bệnh tâm lý thần kinh rất phổ biến hiện nay. Hội chứng này ảnh hưởng đến khoảng 5% dân số thế giới. Đặc trưng của rối loạn cảm xúc là các trạng thái vui – buồn xuất hiện quá mức mà chính bản thân chủ thể không thể tác động vào để thay đổi chúng.

Ở hội chứng này, các cảm xúc có thể xuất hiện theo đan xen lẫn nhau khiến bệnh nhân vô cùng mệt mỏi và trống rỗng. Kèm theo các trạng thái cảm xúc thì người bệnh còn có thể xuất hiện các hành vi bất thường.

Số liệu thống kê cho thấy, hội chứng rối loạn cảm xúc thường xuất hiện ở những thanh niên 20 – 30 tuổi. Ngoài ra, những người có đời sống kinh tế cao hay người có tiền sử gặp phải các vấn đề tâm lý khác cũng có nhiều khả năng mắc bệnh.

rối loạn cảm xúc
Rối loạn cảm xúc cũng là một trong những bệnh tâm lý tinh thần thường gặp hiện nay

Nghiên cứu xác định, nguyên nhân gây ra rối loạn cảm xúc là do rối loạn thần kinh trong não bộ. Tuy nhiên cơ chế chính xác gây ra tình trạng này đến nay vẫn chưa được tìm ra. Một số giả thuyết cho rằng, yếu tố sinh học và các tác động từ bên ngoài có thể liên quan đến tác nhân gây bệnh.

Rối loạn cảm xúc về lâu dài gây ra rất nhiều tác động xấu tới tinh thần và sức khỏe toàn diện. Kèm theo đó là những hệ lụy khó lường. Do đó cần sớm thăm khám, trao đổi với bác sĩ để được chỉ dẫn giải pháp điều trị phù hợp.

8. Bệnh Alzheimer

Bệnh Alzheimer là một bệnh tâm lý thần kinh xảy ra rất phổ biến ở người già (thường là từ 65 tuổi trở nên). Trên thực tế, tuổi tác càng cao thì nguy cơ mắc phải bệnh lý này sẽ càng gia tăng.

Bệnh Alzheimer thường khởi phát chậm và có xu hướng nặng dần lên theo thời gian. Những triệu chứng ban đầu thường là thay đổi tính cách, giảm trí nhớ, dễ tức giận, lo âu và mệt mỏi. Lâu dần, trí nhớ sẽ ngày càng tệ đi kèm theo đó là khả năng nhận thức và tư duy cũng suy giảm.

Cuối cùng, người bệnh sẽ trở nên lú lẫn, nếu ra khỏi nhà thì thường đi lang thang và không tìm được đường về. Ngoài ra còn bị khó ngủ, không thể nói chuyện mạch lạc, quên tên, không nhận ra con cái. Thậm chí không làm được những việc cơ bản thường ngày như ăn uống, vệ sinh cá nhân.

Khảo sát cho thấy, khoảng 30% người mắc bệnh Alzheimer có ảo giác, 30% có hoang tưởng, 40 – 50% có các triệu chứng trầm cảm và lo âu. Diễn tiến của bệnh sẽ nặng dần lên một cách từ từ. Thời gian sống trung bình của người bệnh từ lúc phát bệnh cho tới lúc mất thường từ 8 – 10 năm. Nguyên nhân của sự ra đi có thể do suy kiệt hay do các bệnh lý phối hợp.

Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có phương pháp điều trị với bệnh Alzheimer nên người bệnh sẽ phải sống chung với bệnh cả đời. Tuy nhiên nếu được bác sĩ can thiệp sớm thì vẫn có thể làm chậm tiến triển của bệnh. Từ đó, giúp người bệnh có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc hơn.

9. Rối loạn tăng động giảm chú ý

Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là một trong những dạng rối loạn phát triển thần kinh thường gặp ở trẻ nhỏ. Rối loạn này đặc trưng bởi sự giảm chú ý, bốc đồng và hiếu động quá mức. Ngoài ra, người bị rối loạn tăng động giảm chú ý còn có thể gặp vấn đề trong việc điều chỉnh cảm xúc và kiểm soát chức năng điều hòa.

Theo thống kê, chứng rối loạn này ảnh hưởng đến khoảng 7.2% người dưới 18 tuổi. Trong đó tỷ lệ mắc bệnh ở bé trai cao gấp 2 lần so với bé gái. Bệnh thường khởi phát ở trẻ từ 6 – 12 tuổi, các triệu chứng tiến triển trong vòng ít nhất 6 tháng.

Rối loạn tăng động giảm chú ý
Rối loạn tăng động giảm chú ý là chứng bệnh đang ngày càng phổ biến trong cuộc sống hiện tại

Trong những năm gần đầy, tỷ lệ trẻ bị rối loạn tăng động giảm chú ý đang ngày càng gia tăng. Điều này có thể là do sự phát triển quá mức của khoa học công nghệ, phụ huynh quá bận rộn hay thiếu quan tâm đến con cái…

ADHD ảnh hưởng đáng kể tới khả năng học tập và tiếp thu của trẻ. Ngoài ra do tính cách bốc đồng và hung hăng nên trẻ sẽ dễ bị cô lập, tâm trạng trở nên phức tạp và bất ổn. Nếu không được quan tâm kịp thời thì trẻ có thể phát triển một số rối loạn tâm lý khác.

10. Tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt được xếp vào các căn bệnh tâm lý thần kinh dạng nặng và cũng khá thường gặp. Tình trạng bệnh đang có xu hướng không ngừng gia tăng, ước tính cứ khoảng 100 người sẽ có 1 người bị ảnh hưởng bởi bệnh lý này.

Trên thực tế, các nước phát triển có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với các nước công nghiệp hiện đại. Tại Việt Nam, số liệu được thống kê vào năm 2002 cho thấy có khoảng 0.47% dân số mắc bệnh tâm thần phân liệt.

Đặc trưng của bệnh tâm thần phân liệt là người bệnh xuất hiện những ý nghĩ lệch chuẩn, không phù hợp với xã hội. Tuy nhiên những người xung quanh sẽ không thể giải thích hay giúp họ hiểu đúng vấn đề. Người bệnh thường có hành vi, cử chỉ bất thường do cảm xúc quá nghèo nàn.

Biểu hiện của bệnh tâm thần phân liệt thường khác nhau ở từng người. Điển hình là trạng thái hoang tưởng, ảo thanh, rối loạn suy nghĩ, giảm biểu lộ tình cảm, mất đi ý muốn làm việc, tự cách ly xã hội…

Việc điều trị rối loạn tâm thần thường gặp phải rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân thường là do bệnh nhân không thể nhận thức được tình trạng bận của bản thân. Hơn nữa đây còn là bệnh mãn tính nên việc điều trị sẽ cần phải duy trì cả đời.

Bất cứ bệnh tâm lý thần kinh nào cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và cuộc sống người bệnh. Hơn nữa, việc điều trị các bệnh lý này cho đến nay vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Bạn cần chú ý chăm sóc bản thân tốt hơn để đảm bảo cả sức khỏe thể chất và tinh thần.

Có thể bạn quan tâm:

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *