Rối loạn Stress sau sang chấn (PTSD): Dấu hiệu và cách chữa trị

Rối loạn Stress sau sang chấn (PTSD) là một dạng rối loạn lo âu xảy ra sau khi chứng kiến/ trải qua những sự kiện có tính chất khủng khiếp (thiên tai, cưỡng bức, tai nạn,…). Bệnh lý này đặc trưng bởi những hồi tưởng không tự chủ, có tính chất thâm nhập, tái hiện gây nhiễm loạn nghiêm trọng cuộc sống của người bệnh.

rối loạn stress sau sang chấn tiếng anh là gì
Rối loạn stress sau sang chấn (Post traumatic Stress Disorder/ PTSD) là một dạng của rối loạn lo âu

Rối loạn Stress sau sang chấn (PTSD) là bệnh gì?

Rối loạn stress sau sang chấn (Post traumatic Stress Disorder/ PTSD) còn được biết đến với những tên gọi khác như rối loạn căng thẳng sau sang chấn/ chấn thương và hậu chấn tâm lý. PTSD thực chất là một dạng của rối loạn lo âu xảy ra sau khi phải đối mặt/ trải qua những sự kiện có tính chất khủng khiếp như cưỡng bức, lạm dụng tình dục, bắt cóc, suýt bị ám sát, tai nạn nghiêm trọng, chiến tranh, chứng kiến những hành vi man rợ gây ám ảnh và hoảng sợ tột độ.

Rối loạn stress sau sang chấn là rối loạn tâm thần đặc trưng bởi những hồi tưởng (suy nghĩ, ác mộng) có tính chất tái hiện, thâm nhập về những sự kiện gây tổn thương tâm lý mạnh. Sự hồi tưởng xảy ra ít nhất 1 tháng và thường bắt đầu trong vòng 6 tháng kể từ khi trải qua sự kiện. PTSD được ghi nhận từ Thế chiến thứ Hai khi tỷ lệ người mắc bệnh tăng cao (chủ yếu các cựu chiến binh trải qua các cuộc chiến tranh tàn bạo).

Thông thường, sức khỏe thể chất và tâm thần sẽ phải chịu ảnh hưởng nhất định khi trải qua những sự kiện khủng khiếp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những ảnh hưởng này có thể kéo dài dai dẳng và nghiêm trọng dần theo thời gian dẫn đến rối loạn căng thẳng sau sang chấn. Tỷ lệ người bị PTSD trọn đời là gần 9% và khoảng 4% chỉ xảy ra trong vòng 1 năm.

Thống kê cho thấy, rối loạn stress sau sang chấn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, không có sự chênh lệch ở chủng tộc, quốc tịch nhưng tỷ lệ mắc bệnh có sự khác biệt rõ rệt ở nam và nữ giới (nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao gấp đôi nam giới). Tương tự như các dạng rối loạn lo âu khác, PTSD có thể nghiêm trọng dần theo thời gian và ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của người bệnh nếu không được điều trị.

Dấu hiệu nhận biết rối loạn căng thẳng sau sang chấn

Rối loạn căng thẳng sau sang chấn đặc trưng bởi sự hồi tưởng (suy nghĩ, ác mộng) không mong muốn, có tính chất thâm nhập và tái hiện lại những sự kiện đau buồn, khủng khiếp đã xảy ra trước đó không quá 6 tháng. Khi hồi tưởng các sự kiện này, bệnh nhân có các cảm xúc dữ dội dẫn đến phản ứng né tránh và những thay đổi tiêu cực trong suy nghĩ, nhận thức.

Triệu chứng của rối loạn stress sau sang chấn tương đối đa dạng, trong được chia thành 4 nhóm chính:

rối loạn stress sau sang chấn - ptsd
Người mắc hội chứng PTSD luôn xuất hiện các ý nghĩ không tự chủ về những sự kiện đau buồn đã xảy ra

Hồi tưởng ký ức có tính chất thâm nhập, tái hiện:

  • Xuất hiện các ý nghĩ lặp đi lặp lại về những sự kiện đau buồn đã xảy ra một cách không tự chủ
  • Thường xuyên gặp các giấc mơ, ác mộng hồi tưởng về những trải nghiệm tồi tệ, kinh khủng
  • Hồi tưởng có tính chất tái hiện khiến bệnh nhân có cảm giác sự việc đang diễn ra ở trước mặt dẫn đến những suy nghĩ và cảm xúc dữ dội
  • Cảm giác đau khổ trước những sự việc/ tình huống gợi nhắc đến sự kiện khủng khiếp đã trải qua.

Phản ứng tránh né:

  • Tránh đề cập đến sự kiện đau buồn cả trong lời nói và suy nghĩ
  • Bệnh nhân có xu hướng tránh tiếp xúc với những người, hoạt động, đồ vật và địa điểm gợi nhắc đến sự kiện gây ám ảnh
  • Phản ứng quá khích nếu có ai đó yêu cầu diễn tả lại sự kiện và cảm xúc của bản thân.

Thay đổi về nhận thức và tâm trạng:

  • Hình thành những suy nghĩ tiêu cực về bản thân, những người xung quanh và thế giới
  • Vô vọng, bi quan về tương lai
  • Suy nghĩ sai lệch về nguyên nhân/ hậu quả của sự kiện gây sang chấn dẫn đến tâm lý đổ lỗi cho bản thân và những người xung quanh.
  • Thường trực cảm xúc tội lỗi, tức giận, xấu hổ, kinh hoàng và sợ hãi tột độ
  • Luôn có cảm giác tách biệt với bạn bè, gia đình và những người xung quanh
  • Xuất hiện những vấn đề về trí nhớ (giảm trí nhớ, trí nhớ bị gián đoạn). Một số bệnh nhân có thể mất một đoạn ký ức liên quan đến sự kiện gây sang chấn.
  • Giảm sự quan tâm và hứng thú với những hoạt động, kể cả những sở thích trước đây
  • Tê liệt và mất cảm giác với mọi thứ xung quanh
  • Luôn hiện diện sự lạc lõng, cô đơn nên rất khó duy trì mối quan hệ thân thiết với người khác
  • Gần như không có bất cứ cảm xúc hay suy nghĩ tích cực nào

Thay đổi về phản ứng thể chất và cảm xúc:

  • Luôn có tâm thế đề phòng với những mối nguy hiểm xung quanh mặc dù thực tế không có bất cứ sự đe dọa nào (tỏ ra nghi ngờ và quan sát mọi thứ chăm chú với ánh mắt nghi ngờ)
  • Dễ sợ hãi và giật mình
  • Khó tập trung
  • Khó ngủ, ngủ chập chờn, dễ tỉnh giấc do gặp ác mộng
  • Dễ bộc phát sự tức giận và có những hành vi hung hăng, quá khích
  • Có những hành vi hủy hoại bản thân như lái xe quá nhanh, uống nhiều rượu,…
  • Xuất hiện những hành vi thiếu thận trọng, không suy nghĩ

Đối với trẻ dưới 6 tuổi, rối loạn stress sau sang chấn có thể gây ra một số triệu chứng khác như:

  • Có xu hướng tái hiện sự kiện gây sang chấn thông qua trò chơi
  • Trẻ có thể quấy khóc, la hét khi có người gợi nhắc đến sự kiện đau buồn

Sau khi đối mặt với những sự kiện đau buồn, các triệu chứng này hoàn toàn là phản ứng thông thường của cơ thể. Tuy nhiên ở bệnh nhân PTSD, các triệu chứng này phải kéo dài hơn 1 tháng và gây nhiễu loạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hằng ngày. Rối loạn căng thẳng sau chấn thương thường kéo dài trong nhiều năm và có thể dẫn đến nhiều rối loạn tâm thần khác nếu không có biện pháp điều trị kịp thời.

Nguyên nhân gây rối loạn stress sau sang chấn (PTSD)

Không phải ai cũng phát triển hội chứng PTSD sau khi đối mặt với những sự kiện gây sang chấn. Thực tế, có một số người chỉ gặp phải các rối loạn về mặt cảm xúc trong thời gian ngắn, sau đó có thể tự điều chỉnh mà không gây ra quá nhiều ảnh hưởng đối với cuộc sống.

Chính vì vậy, các chuyên gia cho rằng, sự kiện đau buồn chỉ là yếu tố kích thích PTSD bùng phát và người mắc bệnh phải có những nguyên nhân, yếu tố tiềm ẩn từ trước. Hiện nay, nguyên nhân chính xác gây rối loạn stress sau sang chấn vẫn chưa được biết rõ. Nhưng qua nhiều nghiên cứu, hội chứng này được xác định có liên quan đến những nguyên nhân và yếu tố sau:

Rối loạn stress sau sang chấn
Mất cân bằng các yếu tố nội sinh trong não bộ được xác định là có liên quan đến rối loạn stress sau sang chấn
  • Yếu tố di truyền: Thống kê cho thấy, người mắc chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương thường có tiền sử gia đình mắc các chứng rối loạn tâm thần như trầm cảm và rối loạn lo âu. Mặc dù cơ chế di truyền vẫn chưa được nghiên cứu rõ nhưng có thể khẳng định vai trò của di truyền trong hội chứng PTSD.
  • Mất cân bằng các yếu tố nội sinh: Cảm xúc, tư duy và phản ứng của cơ thể với những sự kiện/ tình huống trong cuộc sống chịu sự chi phối của các hormone và chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ. Mất cân bằng các yếu tố nội sinh có thể kích thích các rối loạn bùng phát sau khi đối mặt với những sự kiện có tính chất kinh khủng, đau buồn.
  • Số lượng, mức độ các sự kiện đau buồn trong cuộc sống: Trên thực tế, người mắc chứng rối loạn stress sau sang chấn phải trải qua những sự kiện hoặc chứng kiến các hành vi man rợ, kinh khủng. Những sự kiện/ hành vi này gây ra sự ám ảnh ghê rợn dẫn đến tổn thương tâm lý nghiêm trọng và kéo dài. Ngoài ra, người phải đối diện với liên tiếp những sự kiện đau buồn như tai nạn liên hoàn, gia đình bị ám sát, bị bắt cóc, cưỡng bức, lạm dụng,… cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
  • Yếu tố nhân cách: Tương tự như các dạng rối loạn tâm thần khác, nhân cách cũng là yếu tố có vai trò trong hình thành rối loạn stress sau sang chấn. Cụ thể, những người có tính cách hay lo âu, suy nghĩ, sợ sệt, sống khép kín, hướng nội, ít có thói quen chia sẻ,… có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
  • Các yếu tố khác: Nguy cơ bị rối loạn stress sau sang chấn tăng lên đáng kể khi có những yếu tố như từng trải qua những sự kiện đau buồn từ thời thơ ấu, làm các công việc phải chứng kiến nhiều tình huống bi thương (lính cứu hỏa, quân nhân,…), có sẵn các rối loạn tâm thần, lạm dụng rượu bia và chất gây nghiện, thiếu sự tương tác với bạn bè và gia đình.

Các sự kiện đau buồn dễ gây ra rối loạn stress sau sang chấn bao gồm:

  • Bạo lực tình dục, bị xâm phạm, cưỡng bức
  • Bị lạm dụng thể chất từ thời thơ ấu
  • Tham gia vào các cuộc chiến tranh
  • Trải qua tai nạn khủng khiếp (tai nạn xe, máy bay, tai nạn khi đang làm việc,…)
  • Bị đe dọa đến tính mạng (suýt bị ám sát, bắt cóc,…)
  • Bị tấn công thể xác man rợ
  • Chứng kiến những hành vi tàn nhẫn của người khác
  • Gặp các biến chứng thai kỳ như thai chết lưu, sảy thai,…
  • Bị bỏ rơi từ khi còn nhỏ
  • Hỏa hoạn gây ra hậu quả nghiêm trọng (tiêu tan tài sản, mất hết người thân trong gia đình,…)
  • Đối mặt với những thảm họa thiên nhiên

Ảnh hưởng, biến chứng của rối loạn stress sau sang chấn

Rối loạn stress sau sang chấn là một rối loạn tâm thần xảy ra sau khi đối mặt/ trải qua những sự kiện có tính chất kinh khủng. Các triệu chứng thường kéo dài trong ít nhất 1 tháng và bắt đầu trong vòng 6 tháng sau khi sự kiện kết thúc. Ảnh hưởng đầu tiên của bệnh lý này là gây nhiễm loạn cuộc sống và khiến bệnh nhân không thể duy trì cuộc sống như trước đây.

Những hồi tưởng có tính chất tái hiện, thâm nhập do PTSD tác động đến cả sức khỏe thể chất và tâm thần. Ngoài ra, các phản ứng tức giận, hành vi gây hấn, quá khích cũng dẫn đến nhiều phiền toái trong cuộc sống. Bản thân người bệnh và những người xung quanh có thể không nhận biết được chứng bệnh này. Về lâu dài, bệnh nhân có xu hướng tự cô lập vì không nhận được sự đồng cảm và luôn có cảm giác lạc lõng.

Rối loạn căng thẳng sau sang chấn
Rối loạn căng thẳng sau sang chấn không được khám và điều trị sớm có thể làm tăng nguy cơ lạm dụng rượu bia

Nếu không được thăm khám và điều trị kịp thời, rối loạn stress sau sang chấn có thể gây ra nhiều ảnh hưởng, biến chứng nặng nề như:

  • Giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, người bệnh gần như không có mối quan hệ thân thiết với bạn bè hay người thân
  • Khó duy trì được hiệu quả học tập và làm việc như trước. Điều này phần nào ảnh hưởng đến tài chính và làm gia tăng mối lo âu của người bệnh.
  • Tăng nguy cơ rối loạn lo âu, rối loạn ăn uống và trầm cảm
  • Dẫn đến lạm dụng rượu và sử dụng chất gây nghiện
  • Nghiêm trọng nhất là bệnh nhân hình thành những suy nghĩ và hành vi hủy hoại bản thân hay thậm chí là tự sát
  • Phản ứng căng thẳng, hoảng loạn tột độ và lo âu kéo dài do bệnh lý này cũng làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe như mất ngủ, tăng huyết áp, rối loạn tiêu hóa, đau nhức xương khớp, tiểu đường,…
  • Ở những bệnh nhân có bệnh lý nền, rối loạn stress sau sang chấn có thể gia tăng nguy cơ gặp phải các biến cố nghiêm trọng và hậu quả là giảm tuổi thọ.

Bệnh nhân bị rối loạn căng thẳng sau sang chấn nặng có thể không học tập và làm việc một cách bình thường. Người bệnh luôn đắm chìm trong suy nghĩ tiêu cực và dùng rượu, chất kích thích để làm dịu cảm giác bất an, hoảng loạn và sợ hãi. Những trường hợp này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người bệnh mà còn gia tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Chẩn đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương

Rối loạn căng thẳng sau chấn thương chủ yếu được chẩn đoán thông qua biểu hiện lâm sàng. Chẩn đoán được dựa trên tiêu chuẩn DSM-5 của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ. PTSD chỉ được chẩn đoán khi bệnh nhân có đủ triệu chứng được đề cập trong tiêu chuẩn DSM-5 và phải trực tiếp trải qua/ chứng kiến những sự kiện sang chấn.

Ngoài ra, tiêu chuẩn này cũng chấp nhận trường hợp bệnh nhân gián tiếp chứng kiến các sự kiện có tính chất kinh khủng như biết được những sự kiện khủng khiếp mà người thân, bạn bè thân thiết phải trải qua (thường gặp nhất là người mẹ biết được con cái bị bạo lực, lạm dụng tình dục,…).

Bên cạnh đó, PTSD chỉ được chẩn đoán khi các triệu chứng này kéo dài ít nhất 1 tháng và gây ra những ảnh hưởng đáng kể đối với các hoạt động nghề nghiệp, xã hội và tác động tiêu cực đến các mối quan hệ cá nhân.

Các phương pháp điều trị rối loạn stress sau sang chấn (PTSD)

Nếu không được điều trị, PTSD có xu hướng tiến triển mãn tính và mức độ có thể thuyên giảm nhưng không thể biến mất hoàn toàn. Tuy nhiên trong một số trường hợp, triệu chứng có thể nặng dần lên dẫn đến nhiều rối loạn tâm thần khác.

Đối với rối loạn căng thẳng sau sang chấn, lựa chọn ưu tiên là trị liệu tâm lý bởi sự ám ảnh quá mức về sự kiện đau buồn chính là yếu tố trực tiếp gây bệnh. Bên cạnh đó, bệnh nhân có thể phải sử dụng thuốc và kết hợp thêm với các liệu pháp hỗ trợ.

1. Trị liệu tâm lý

Trị liệu tâm lý là lựa chọn ưu tiên trong điều trị rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Liệu pháp này được thực hiện thông qua hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ/ phi ngôn ngữ giữa bệnh nhân và nhà trị liệu. Trị liệu tâm lý có thể áp dụng cho nhiều đối tượng, kể cả trẻ em nên được xem là giải pháp dài hạn trong điều trị các rối loạn tâm thần.

Mục tiêu của trị liệu tâm lý là điều chỉnh cảm xúc, tư duy, suy nghĩ và hành vi của người bệnh. Hướng dẫn bệnh nhân các kỹ năng để giải quyết vấn đề khó khăn và đối phó với những tình huống trong cuộc sống. Ngoài ra, trị liệu tâm lý còn được thực hiện để cải thiện các chứng bệnh tâm thần kết hợp như rối loạn lo âu lan tỏa (GAD), ám ảnh cưỡng chế, trầm cảm, lạm dụng rượu,…

Điều trị rối loạn stress sau sang chấn
Trị liệu tâm lý là phương pháp chính trong điều trị rối loạn stress sau sang chấn

Có nhiều liệu pháp tâm lý được áp dụng đối với bệnh nhân rối loạn căng thẳng sau stress, trong đó hiệu quả nhất là:

  • Liệu pháp nhận thức: Liệu pháp nhận thức được thực hiện dựa trên quan niệm cảm xúc của mỗi cá nhân bị chi phối hoàn toàn bởi nhận thức/ tư duy. Trong liệu pháp này, nhà trị liệu sẽ tập trung hoàn toàn về cảm nhận của người bệnh để giúp bệnh nhân nhận ra những suy nghĩ này chính là nguồn cơn của những phiền toái, rắc rối trong cuộc sống. Liệu pháp nhận thức thường được thực hiện đồng thời với liệu pháp tiếp xúc.
  • Liệu pháp tiếp xúc: Liệu pháp tiếp xúc (liệu pháp phơi nhiễm) là một trong những kỹ thuật của liệu pháp hành vi. Liệu pháp này được thực hiện để bệnh nhân đối mặt với những sự kiện/ tình huống gây sang chấn nhằm học cách đối phó một cách hiệu quả nhất. Tình huống có thể được nhà trị liệu dựng lên trong hoàn cảnh thực tế hoặc được thực hiện thông qua thôi miên/ phân tích trạng thái nửa tỉnh nửa mê.
  • EMDR: EMDR là liệu pháp quan trọng trong điều trị rối loạn stress sau sang chấn có mức độ nhẹ và trung bình. Trong liệu pháp này, nhà trị liệu sẽ yêu cầu bệnh nhân nhớ lại những sự kiện đau buồn cùng với suy nghĩ và cảm xúc chân thực nhất. Sau đó, bệnh nhân sẽ được yêu cầu tập trung vào môi trường bên ngoài và di chuyển mắt theo ngón tay của nhà trị liệu. Trong thời gian này, nhà trị liệu sẽ trò chuyện để giúp bệnh nhân giảm cảm giác đau buồn và thay đổi phản ứng đối với những sự việc/ tình huống gợi nhắc.

Khi cảm xúc đã ổn định, bác sĩ trị liệu sẽ hướng dẫn một số kỹ năng để bệnh nhân có thể đối phó và quản lý những vấn đề căng thẳng trong cuộc sống. Người bệnh cũng có thể được phát triển kỹ năng giao tiếp để hòa hợp nhanh chóng với cộng đồng. Trị liệu tâm lý có thể được thực hiện cá nhân hoặc trị liệu theo nhóm tùy theo từng trường hợp.

Ngoài các liệu pháp chính, bệnh nhân có thể phải thực hiện thêm một số liệu pháp hỗ trợ:

  • Liệu pháp tâm lý nâng đỡ
  • Âm nhạc trị liệu
  • Kỹ thuật thở dưỡng sinh

2. Sử dụng thuốc

Bên cạnh trị liệu tâm lý, bệnh nhân cũng có thể phải sử dụng thuốc để làm giảm các triệu chứng do rối loạn stress sau sang chấn gây ra. Loại thuốc được sử dụng phổ biến là thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs) – một trong những loại thuốc chống trầm cảm. Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể chỉ định dùng thêm một số loại thuốc khác tùy theo triệu chứng.

Điều trị rối loạn stress sau sang chấn
Tùy theo triệu chứng cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc chống trầm cảm, thuốc giải lo âu,…

Các loại thuốc được sử dụng trong điều trị rối loạn stress sau sang chấn:

  • Thuốc chống trầm cảm: Các loại thuốc chống trầm cảm như thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc,thuốc chống trầm 3 vòng,… được sử dụng để làm giảm sự lo lắng, căng thẳng và cải thiện các vấn đề giấc ngủ ở bệnh nhân bị rối loạn stress sau sang chấn. Trong đó, Sertraline và Paroxetine là 2 loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất.
  • Thuốc giải lo âu: Thuốc giải lo âu được sử dụng khi bệnh nhân có biểu hiện lo âu nghiêm trọng, sợ hãi và hoảng loạn tột độ. Nhóm thuốc này có tác dụng ức chế cảm giác lo lắng để cải thiện các triệu chứng ở bệnh nhân rối loạn stress sau sang chấn. Tuy nhiên, nhóm thuốc này dễ gây nghiện nên chỉ được sử dụng trong thời gian ngắn.
  • Prazosin: Prazosin là thuốc chẹn alpha 1 thường được sử dụng trong điều trị tăng huyết áp. Một số nghiên cứu cho thấy, loại thuốc này có thể làm giảm và ngăn chặn các cơn ác mộng ở bệnh nhân rối loạn stress sau chấn thương. Tuy nhiên, hiệu quả này của thuốc Prazosin cần phải được nghiên cứu thêm trước khi sử dụng rộng rãi.

Dùng thuốc luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và tác dụng phụ. Chính vì vậy, bác sĩ sẽ cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ trước khi chỉ định. Khi sử dụng thuốc, bệnh nhân cần được tư vấn kỹ về tác dụng phụ để kịp thời phát hiện và xử trí.

3. Tổ chức lại lối sống

Lối sống lành mạnh tác động đáng kể đến quá trình hồi phục ở bệnh nhân bị rối loạn stress sau sang chấn. Chính vì vậy bên cạnh các phương pháp chuyên sâu, bệnh nhân cần điều chỉnh lối sống theo chiều hướng tích cực hơn.

Điều trị rối loạn stress sau sang chấn
Xây dựng lối sống lành mạnh tác động tích cực đến quá trình điều trị rối loạn stress sau sang chấn
  • Xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý với khối lượng thức ăn vừa phải, ăn đủ 3 bữa và thực đơn mỗi bữa phải cung cấp đầy đủ vi chất dinh dưỡng cơ thể cần thiết.
  • Tập thể dục mỗi ngày để nâng cao sức khỏe và giảm thời gian suy nghĩ đến những sự kiện gây sang chấn.
  • Ngủ đủ giấc và hạn chế làm việc căng thẳng. Nếu gặp vấn đề về giấc ngủ, bệnh nhân nên áp dụng một số biện pháp thư giãn như nghe nhạc, liệu pháp mùi hương, tắm nước ấm, đọc các câu chuyện truyền năng lượng tích cực,…
  • Có thể tận dụng một số loại gia vị, thảo dược có khả năng giảm căng thẳng và lo âu như bạc hà, củ nghệ, gừng tươi, lá hương thảo,…
  • Nếu có những hành vi quá khích và không kiểm soát được cảm xúc của bản thân, bệnh nhân nên chủ động trao đổi với cấp trên và đề nghị nghỉ một thời gian để thuận tiện cho quá trình chữa trị.
  • Học cách chia sẻ, bộc lộ suy nghĩ với người thân và bạn bè thân thiết.

Phòng ngừa rối loạn stress sau sang chấn

Rối loạn stress sau sang chấn chỉ xảy ra khi chứng kiến/ trải qua những sự kiện có tính chất khủng khiếp. Tuy nhiên, việc kiểm soát những sự kiện/ tình huống xảy ra trong cuộc sống gần như là không thể. Vì vậy để phòng ngừa PTSD, cần có các biện pháp điều chỉnh cảm xúc ngay sau khi trải qua các sự kiện sang chấn.

Một số biện pháp phòng ngừa PTSD sau khi trải qua sang chấn:

  • Cảm giác tội lỗi, hoảng loạn, lo sợ, căng thẳng,… là phản ứng thông thường khi phải đối mặt với những sự kiện kinh khủng. Tuy nhiên, các cảm xúc này sẽ giảm dần khi chủ động chia sẻ và nhận được sự giúp đỡ, đồng cảm từ những người xung quanh.
  • Không nên dành quá nhiều thời gian để suy nghĩ về những việc đã xảy ra hay tự đổ lỗi cho bản thân và những người xung quanh. Thay vào đó, nên dành thời gian để nghỉ ngơi, thư giãn và tham gia các hoạt động thiện nguyện, lành mạnh.
  • Tuyệt đối không sử dụng bia rượu, thuốc lá và chất gây nghiện.
  • Cân nhắc trị liệu tâm lý nếu nhận thấy bản thân không thể kiểm soát được những cảm xúc tiêu cực và thường xuyên gặp phải ác mộng.

Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) là chứng bệnh tâm thần rất phổ biến sau chiến tranh. Hiện nay, tỷ lệ mắc bệnh có thuyên giảm nhưng điều trị còn nhiều thách thức nên cần đẩy mạnh phòng ngừa và phát hiện sớm. Hy vọng qua những thông tin trong bài viết, bệnh nhân có thể hiểu rõ về bệnh tình và tích cực hơn trong quá trình chữa trị.

Tham khảo thêm:

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

icon Zalo icon messenger